Kỳ tứ

Nguyên tác chữ Nho (*)

Phiên âm

Nhân thế đa phiền não,

Bế môn viễn thị phi.

Sĩ sư (1) đồng giới sắc,

Trang Tử cộng vong cơ. (2)

Tập tĩnh thi ma phục,

An thiền tửu khách vi.

Quế Lâm lai diện bích, (3)

Thủy giác đạo tâm vi.

Dịch nghĩa: Bài bốn

Vào đời nhiều phiền não,

Đóng cửa xa lánh thị phi.

Cùng giới sắc với đấng Sĩ sư,

Cùng không có cơ tâm như Trang Tử.

Tập quen tĩnh ma thơ phục chờ,

An lòng thiền khách rượu ít.

Quế Lâm đến quay mặt vào vách,

Bắt đầu hiểu lòng đạo huyền vi.

Chú thích

(1): Sĩ sư: tức ông Cao Dao, quan coi về hình pháp thời vua Thuấn.

(2): Vong cơ: không có tâm cơ.

(3): Diện bích: quay mặt vào vách, ý chỉ thiền định.

Hoài Anh dịch thơ

Vào đời phiền não càng nhiều,

Chi bằng đóng cửa lánh điều thị phi.

Giới sắc theo gương Sĩ sư,

Không cơ tâm có khác thì thầy Trang.

Quen tĩnh, ma thơ nấp giường,

An thiền, khách rượu ngày càng ít đi.

Mặt quay vào vách, nghĩ suy,

Mối hay tâm đạo huyền vi lạ thường.


(*): Tôi chưa tìm được bản gốc chữ Nho, sẽ bổ sung sau.

Viết một bình luận

error: Content is protected !!