Cuốn 2: Mỹ Tho

Mỹ Tho phong cảnh thi:

Phong cảnh vui xem hạt Định Tường,

Tàu xe đông đảo mối đầu đường.

Cồn Rồng đất nổi che tiền diện,

Cổ Lịch đồn xây trấn viễn phương.

Phú nữ hào nam nơi tổng lý,

Cử nhơn tấn sĩ chốn khoa trường.

Thuần lương tập tục dân no đủ.

Hóa hóa sanh sanh lợi ruộng vườn.


Mỹ Tho nguyên tỉnh Định Tường,

Phía tiền một dãy phố phường quá đông.

Trên bờ hàng hóa thạnh sung,

Dưới sông ghe đậu chật cùng ngoài trong.

Sông con giáp nước Sân-trông,

Truy nguyên thuở trước bởi ông Vân hầu.

Đào thông theo giặc cho mau,

Quân Mên thất thế hàng cầu nhiêu sanh.

Một đầu giáp lại Bến Tranh,

Một đầu giáp lại thấu ranh Vũng Gù. (10)

Song mà hồi ấy chỉnh tu,

Để lo phòng bị tuần du tặc thuyền.

Hãy còn chật hẹp chưa liền,

Gia Long nhứt thập bát niên thêm đào.

Từ sau thuận tiện ra vào,

Ghe buôn tự thích chở trao dễ dàng.

Chạy dài theo mé đại giang,

Phía trên giáp với An Giang Vàm Hàng,

Cù lao trước mặt án ngang,

Chữ kêu Long Đảo rỡ ràng trời sanh. (20)

Khen ai cũng khéo đặt danh,

Khi xưa mới nổi như hình ngọa long.

Lưu truyền tiếng gọi Cồn Rồng,

Để làm bình tế ngoài vòng Mỹ Tho.

Qua sông Rạch Miễu có đò,

Một ngày hai buổi ra vô hoài hoài.

Cồn Rồng nay cất lầu đài,

Một tòa cao thấp trong ngoài làm nhơn.

Để nuôi tàn tật bịnh nhơn,

Không cho chung chạ sợ cơn nhiễm truyền. (30)

Nên làm ra một cõi riêng,

Năm thìn trận bão ngửa nghiêng tanh bành.

Ơn nhờ Thượng đế háo sanh,

Mười phần hao một chẳng đành tan hoang.

Rộng dài bề dọc bề ngang,

Mười lăm phần tổng khắp ngàn điền viên.

Thổ nghi vườn ruộng tương liên,

Bông hoa quả phẩm thường xuyên thiếu gì.

Cá tôm sò ốc đâu bì,

Của nơi sông biển lắm khi dư dùng. (40)

Tốt tươi bắp đậu các giồng,

Khoai lang Trấn Định người trồng vạn thiên.

Cải rau bông thuốc khắp miền,

Đồ làm trong rẫy xóm riềng nhặt sai.

Bí thời tiếng bí Ba Lai,

Mía thời Gò Cát ai ai đẹp tình.

Hòa Quới với tổng Hòa Thinh,

Dừa khô thổ sản có danh Nam kỳ.

Cây dừa chẳng bỏ món chi,

Niên niên thạnh lợi nhiều khi dân nhờ. (50)

Trời sanh vật giữa cõi bờ,

Ở đâu đã sẵn tư cơ cho người.

Cái Váng kể biết mấy mươi,

An Hồ Tân Thạch khô tươi dập dồn.

Tư bề Thừa Đức nội thôn,

Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng.

Vật hèn cây lát cây đưng,

Cũng là giúp đỡ nhơn dân lợi dùng.

Thẳng theo bờ ruộng các đồng,

Chưng – bầu làm củi sẵn trồng nơi nơi. (60)

Cây bần tạp dụng để chơi,

Cù lao mé nước mỗi nơi kẹo lề.

Chữ kêu Thủy Liễu tốt tên,

Ghe hay hứng mát dựa bên gần bờ.

Trang nghiêm một sở nhà thờ,

Lầu cao vọi vọi đến giờ chuông rung.

Người trong đạo Chúa thạnh sung,

Đến tuần xem lễ khiêm cung kĩ càng.

Nhà thương Nhà phước bĩ bàng,

Phân ra đâu đó lớp lang ê hề. (70)

Bên phan bên niết chỉnh tề,

Các dinh các sở tư bề phân minh.

Điền Hòa Mỹ Chánh thần đình,

Qui mô tráng lệ công trình biết nhiêu.

Châu thành chợ nhóm dập dìu,

Xe người xe ngựa thảy đều có đưa.

Buổi mơi buổi tối buổi trưa,

Tàu đò xe lửa rước đưa liền liền.

Đầu đường sáu tỉnh mối giềng,

Tiệm ăn tiệm ngủ khỏe yên bộ hành. (80)

Thiệt là đồng đạo hữu danh,

Tứ phương lai vãng dinh sanh điệp trùng.

Người xưa chữ nghĩa mẫn thông,

Kinh Hương, Hạp trí hai ông thanh nhàn.

Đều là thuở cựu làm quan,

Qua đời tân cũng yêu sang hai ngài.

Hương, làm Quản hạt lâu dài,

Trí, làm Phủ sứ ra ngoài Thừa Thiên.

Đã lâu về chốn cửu tuyền,

Tiếc thương danh giá lòng phiền cám trông. (90)

Học trường chỗ rộng thông,

Cũng là trường lớn ở trong Nam kỳ.

Công phu ăn học cập kỳ,

Có khi du tức có thì tàng tu.

Ông Cô-Tên (Cotel), tánh cần cù,

Bề trên cai quản mấy thu trường nầy.

Trong ba món chữ đều hay,

Mình làm sư phạm nặng dày công lao.

Tác thành sĩ tử biết bao,

Gắng đua hậu tấn thấp cao bôn trì. (100)

Nước nhà khen ngợi yêu vì,

Phải trang sơn đẩu oai nghi làm thầy.

Nữ trường thiết lập mới đây,

Dạy vừa thêu tiểu vá may đủ nghề.

Tập binh trại cất chỉnh tề,

Chỗ xưa thành cũ nay nghè bình trang.

Mỹ Tho cũng xứ Trường An,

Phong lưu sĩ nữ lịch sang trong đời.

Hiềm vì đường sá hẹp hòi,

Xe đi hứng mát chiều trời không nơi. (110)

Hoặc khi lễ lớn ăn chơi,

Đủ phường dinh dãy đủ nơi quê mùa.

Các làng đều có ghe đua,

Điền Hòa Mỹ Chánh ăn thua nhứt nhì.

Hai làng roi dấu lễ nghi,

Lắm người thuở cựu học thi bộn bàn.

Nhiêu Ninh, Học Lạc, Nhiêu Phan,

Nho y cầm tửu phải trang học trò.

Lạc, Ninh, thôi đã rủi ro,

Còn Phan, ở lại duỗi co theo đời. (120)

Dặm tình nhớ trước vơi vơi,

Khi khuyên chén rượu khi mời câu thi.

Thầy Tuấn, cũng tay lương y,

Tuốc noi vương đạo Hiên, Kỳ, truyền tôn.

Trụ trì ông Pháp sư Tồn,

Tu hành cớ phận khéo khôn nhiều tiền.

Gặp thời thêm lại gặp duyên,

Thiện nam tín nữ người siêng phục tùng.

Bến Tranh, Cai Lộc, Sân Trông,

Cổ Chi, Trấn Định, đất sung người hào. (130)

Cao hoàng đế, thuở ra vào,

Đương khi kình ngạc ba đào phiến dương.

Nhờ đâu Tam phụ thạnh cường,

Phá Tây Sơn tặc chiến trường lập công.

Đông Sơn nghĩa lữ xưng hùng,

Ngài đi chiêu mộ về dùng trảo nha.

Chỗ là mũi giặc vô ra,

Thói dân địch khái trẻ già thẳng ngay.

Tập quen roi đến đời nay,

Huân, Lân, khởi nghĩa người say tấm lòng. (140)

Cả thảy nghe theo rùng rùng,

Dẫu ra khổ não khốn cùng cũng ưng.

Bất hàng cam đoạn Tướng quân,

Ông Huân thủ bút khi vưng chịu hình.

Cho hay quí tiện nhục vinh,

Đều chôn xuống đất mà danh khác nhiều.

Bại thành cũng tiếng tạc biêu,

Bấy lâu nghe đã quạnh hiu cang tràng.

Dân cư rẫy ruộng an nhàn,

Miễu chùa lễ nghĩa tục làng lịch xinh. (150)

Bà Tám Thơm, rất hiền lành,

Tại làng Lương Phú Bến Tranh quê nhà.

Lưu truyền phước đức thành gia,

Nay còn cháu chắt trẻ già đều nên.

Tứ bàn xóm dưới xóm trên,

Những người danh giá đôi bên còn nhiều.

Chữ nho gốc hãy chuộng yêu,

Dẫu nghèo không bỏ mỹ miều thi thơ.

Có chùa Sắc tứ cựu cơ,

Nơi thôn Thạnh Phú bây giờ đương sung. (160)

Long Hưng cả Lựu vợ chồng,

Hơn ba ngàn bạc của dùng bố thi.

Cúng thêm ông Phật từ bi,

Đúc ngoài Hà Nội tứ vi thết vàng.

Rước về công khó gian nan,

Trí nơi chùa ấy ngồi bàn chánh trung.

Hãy còn nhiều kẻ có lòng,

Thiện nam tín nữ của chung kỉnh thành.

Trùng tu nay đã lạc thành,

Từ rày Sắc tứ hiển vinh cữu trường. (170)

Kim Sơn một chỗ thôn hương,

Lắm nhà hào hộ đống lương rọi còn.

Phong lưu cốt cách chưa mòn,

Tinh anh tú khí sông ngon tạo thành.

Có ông cả Dám hiển linh,

Chư thôn bàn cận húy danh hết lòng.

Ngày nay Phạm Nguyễn hai dòng,

Ở trong làng ấy thạnh đông cửa nhà.

Phạm thì ở ấp Mỹ Hòa,

Đời đời lương thiện tên là Tổng Diêu. (180)

Sanh ra Phó Túy mỹ miều,

Làm tôi giúp nước công nhiều bền dai.

Nguyễn thì ở ấp phía ngoài,

Là ông Cựu Trí lâu dài hưng long.

Em là Nhiêu Chất Nhiêu Phong,

Ba nhà con cháu hiệp sung nhãn tiền.

Nhiêu Phong phước đặng con hiền,

Là Cai tổng Hiến dạ chuyên thanh cần.

Ông Lê Văn Duyệt song thân,

Mả chôn nguyên ở Long Hưng chánh làng. (190)

Vuôn tre yêm ái tứ bàn,

Trong xây vôi đá trước hàng mộ bi.

Trải bao vật oán tinh di,

Tục kêu Lăng Cố tri tri chẳng mòn.

Sanh con đích đáng ông con,

Miễu lăng Gia Định tích còn tạc biêu.

Mấy người cháu, tệ quá điều,

Tự điền hương hỏa lợi nhiều ngàn trăm.

Ăn chơi oan đãng cố cầm,

Đến ngày kị lạp vô tâm kỉnh thành. (200)

Vậy nên sự nghiệp tan tành,

Từ rày hương chức bao đành lấp ngơ.

Tu bồi Lăng Cố mộ cơ,

Ta làm phải nghĩa cõi bờ chứng tri.

Mỹ Tho nhà tốt thiếu chi,

Nhà Ngô Ngọc Lựu cất thì mới đây.

Vững bền nền đúc cao xây,

Gỗ đều danh mộc thêm cây trắc toàn.

Xa cừ ốc cẩn rỡ ràng,

Bao lam mấy bộ khéo càng không sai. (210)

Tốn hao năm vạn đồng ngoài,

Lưu truyền nghiệp cả lâu dài nước non.

Ngô Ngọc Quan, ấy là con.

Nay làm cai tổng tuổi còn thanh xuân.

Việc công giữ nết liêm cần,

Nội Thuận Bình tổng xa gần ngợi xưng.

Thảo ngay không mất bổn căn,

Chắc là chỉ nhựt cao thăng có ngày.

Ông Ba Thận, tánh rất hay,

Cí vui y đạo làm thầy có danh. (220)

Gặp hồi phong tục cải canh,

Thú vui ẩn dật nhàn thanh ruộng vườn.

Sùng nho trọng đạo thường thường,

Hiếu trung hai chữ chủ trương gia đình.

Con là Ba Thảo hậu sanh,

Cầm thi xảo biết lịc thanh đủ dùng.

Đẹp thay làng Vĩnh Kiêm Đông,

Truy nguyên tích cũ văn phong thiệt nhiều.

Miễu chùa chợ búa mỹ miều,

Người hay học đạo mơi chiều thung dung. (230)

Bởi xưa Tấn sĩ một ông,

Tên Phan Hiển Đạo ngụ trog làng nầy.

Công phu đèn sách nặng dày,

Làm Đốc học chánh dạy nay Định Tường.

Tác thành sĩ tử khoa trường,

Phải trang mô phạm văn chương lưu tồn.

Chánh làng ở Dưỡng Điềm thôn,

Học trò đều thea3y kính tôn bậc hiền.

Trước nhà dán một câu liên,

Mượn sơn thủy cảnh bút nghiên đặt bày. (240)

Gặp hồi binh cách chẳng may,

Suối vàng cam phận tỉnh say mặc đời.

Dạ đài luống chịu nín hơi,

Xét soi phú có gương trời là ơn.

Khá khen bà Thủ bảng Hơn,

Nói luôn cho biết nguồn cơn sự bà.

Một niềm cần kiệm sanh nha,

Nữ công nữ hạnh ai mà sánh đương.

Dầu khi tị nạn viễn phương,

Cũng là siêng nhọc lo lường làm ăn. (250)

Quả cư giữ vẹn lòng hằng,

Mấy năm tạo lập ví bằng giàu to.

Một mình gầy dựng cơ đồ,

Chia cho mấy cháu qui mô sẵn sàng.

Tám mươi bốn tuổi giấc an,

Thật là phú thọ ít trang như bà.

Cây cao tàng lớn diềm dà,

Sau nhờ ấm mát cả nhà hiển vinh.

Ông cả Trị, làng Nhị Bình,

Tuổi đà bảy chục tánh tình hào thay. (260)

Sửa mình cứ lẽ thẳng ngay,

Người trong làng xã càng hay phục thành.

Các thôn bàn cận xanh quanh,

Chuyện chi trắc trở đem dành xử phân.

Gặp đời ly loạn phân vân,

Bảo toàn hương lý nhơn dân yêm liềm.

Trần Thinh Dự, làng Dưỡng Điềm,

Xảo thông nho học tánh khiêm cung thường.

Ở nhà lập một tư trường,

Dạy nên con trẻ văn chương khiển hoài. (270)

Trêu Rau Răm, dưới Ba Rài,

Cù lao Ngũ Hiệp đất dài rộng thay.

Chợ ông Cả Công ngày nay,

Nhóm thường sung túc đông dầy người ta.

Nguyên xưa một chỗ rừng già,

Huỳnh Văn Công chiếm lập ra thị triền.

Dần dần qui tụ đông liền,

Phần ăn Cẩm Địa tiền hiền còn lưa.

Lịch thay phong thổ Ba Dừa,

Vườn cây hai phía nhặt thưa cả ngàn. (280)

Cau Tầm Vun, với trần Rang,

Bông hoa lợi lộc dễ dàng dinh sanh.

Mỹ Đông Trung tục rất xinh,

Huỳnh Văn Trung trước học sanh Định Tường.

Đương cơn binh hỏa nhiễu nhương,

Không quên thủy thổ Quấc vương cang thường.

Lập ra tư thục một trường,

Tạo thành môn đệ thôn hương tứ bàn.

Mình cam ẩn dật thanh nhàn,

Dựng nền thánh miễu nghiêm trang kỉnh thành. (290)

Nay đà về chốn âm minh,

Con là Kỉnh Thứ gia đình thi thơ.

Rủi cho tuổi tác không chờ,

Mới vừa tử biệt ngẩn ngơ sự nhà.

Hãy còn con cháu thuận hòa,

Dấu roi danh giáo chắc là nối sau.

Trải xem phong cảnh Ba Dầu,

Đất nhờ huê lợi cau trầu tư niên.

Mé sông dân ở liền liền,

Xanh quanh nội chợ xóm riềng quạnh hiêu. (300)

Bán buôn chẳng đặng bao nhiêu,

Làm ăn chắc chắc cứ theo ruộng vườn.

Nguyễn Thị Liệu, trinh nữ phường,

Nguyên xưa nàng ấy bị cường hãm dâm.

Khi đó tuổi chừng mười lăm,

Mình không chịu nhục mạng lầm tay gian.

Vua ban cho tấm biển vàng,

Lập phường trinh nữ tại làng Mỹ Đông.

Tiếc danh chói rạng non sông,

Những người hương phấn ai không yêu vì. (310)

Miên kinh ngoạt cửu lắm khi,

Ngói vôi xui ngã còn chi nữ phường.

Thiện nam tín nữ bổn hương,

Y theo sửa lại tỏ tường như xưa.

Tấm biển cũ hãy còn lưa,

Đổi làm tấm mới cũng vừa mỹ quan.

Thường niên cúng cấp cỗ bàn,

Câu liên trước cửa ngai vàng biểu sinh.

Thanh Sơn thôn, cảnh rất xinh,

Là chợ Cây Lậy có dinh phủ đường. (320)

Nghiêm trang điển xá học trường,

Cửa nhà đông đảo phố phường trước sau.

Sông Cái Bè, rạch rộng sâu,

Có quan Tổng đốc nhà lầu tôn nghiêm.

Một tòa cao vọi lặng yêm,

Phía sau gia mộ cuộc thêm diềm dà.

Gốc xưa thi lễ truyền nhà,

Gặp cơn ly loạn mình ra dẹp nàn.

Xuất thân từ lính đến quan,

Bốn mươi năm chẵn trên an nhọc nhằn. (330)

Tên là Bá Lộc họ Trần,

Tướng hùm nổi gió oai thần nép ma.

Nhứt sanh tin tưởng Chúa Bà,

Thường đeo tượng ảnh để mà trấn thân.

Khi nào hỗn chiến giáp gần,

Đạn tên giặc bắn rần rần bên tai.

Như ao che đỡ mình ngài,

Dư trong mấy trận không hoài vít đau.

Bắn voi lớp trước lớp sau,

Hai mươi tám thất chẳng sầu chẳng nao. (340)

Mình không thương tích tổn hao,

Thiệt là bổn mạng gởi trao cho Bà.

Làm nhà thờ Đức Chúa Bà,

Phí tiêu ước đến của nhà tiền muôn.

Giữ gìn đạo Chúa luôn luôn,

Tấm lòng sánh với tiếng chuông chẳng rời.

Mẹ cha như đất như trời,

Ngài hay hiếu dưỡng đời đời không sai.

Pháp triều thạnh trị lâu dài,

Lạc hoa sang trọng thưởng tài ngươn công. (350)

Vua Đồng Khánh, có tặng phong,

Kim tinh bội khánh thanh hồng sô xa.

Hiếu tâm đủ nhựt đủ gia,

Bất suy thê tử thuận hòa đệ huynh.

Bào an nội hạt thái bình,

Nam kỳ lục tỉnh một mình không hai.

Sanh ra trai phải con trai,

Tử thừa phụ nghiệp lâu dài hiển vang.

Ông Trần Bá Thọ vững vàng,

Mở khoa ngôn ngữ lại càng có danh. (360)

Kể ra những sự đào kinh,

Gốc xưa Thập tháp nghĩa binh tụ tàng.

Giao hòa thuở mới vừa an,

Võ Di Dương lén dọc ngang biên thùy.

Kheo khư chỗ rất dị kỳ,

Tư bề bưng trấp giữa thì tháp xây.

Ông Dương võ nghệ cao tay,

Chiêu qui binh chúng chiếm ngay xưng hùng.

Mịt mù bốn phía minh mông,

Tấn công thối thủ đất không thế thần. (370)

Hiếu trung lòng dốc chuyên cần,

Nghịch trời đem sức quét trần đặng đâu.

Thoát thân về tới ghe bầu,

Khỏi nơi Cần Hải Tiền Xu đón thoàn.

Giấc nồng đêm dậy nhảy khan,

Hồn chôn bụng cá ưng oan chẳng cầu.

Miễn tròn danh giá về sau,

Ức dương nghị luận mặc âu thế tình.

Tháp Mười địa cuộc minh minh,

Muôn trùng nước cỏ thinh thinh dập dồn. (380)

Ước chừng một huyện xã thôn,

Cọp vui heo rắn khỉ chồn ở bao.

Ông Trần Bá Lộc xin đào,

Kinh thông nước chảy dễ vào dễ ra.

Quan nghi sức mọn người ta,

Đào sao cho thấu hằng sa Tháp Mười.

E khi uổng phí công người,

Cả trong thiên hạ chê cười tốn hao.

Nhiều lần xin, mới cho đào,

Ba năm đất mở biết bao hoan nhàn. (390)

Giải dầu trải mấy gain nan,

Nên ra một chỗ muôn ngàn điền gia.

Nay đà lợi ích nước nhà,

Công xâu dân chúng công đà đáng công.

Tốt thay Thập Tháp một đồng,

Đông tây nam bắc nay thông bốn bề.

Tan An Sa Đéc giáp kề,

Các mối kinh đã dân về vạn thiên.

Trời cho một chỗ bạc tiền,

Bởi người có khó có siêng mới thành. (400)

Nông là gốc của dân sanh,

Làm ra đặng lợi đặng danh đời đời.

Đập đìa bưng xẻo khắp nơi,

Cậy nhờ lúa cá thảnh thơi an nhàn.

Pháp triều đồ sộ giang san,

Ơn quan Tổng đốc nhẩy tràng chung riêng.

Nguyên khi thiết lập đồng điền,

Hãy còn nền chợ ở miền Xoài Tư.

Toan khai Thập Tháp câu cừ,

Đặng thông các ngã dân cư nẻo đường. (410)

Đại thần ông Nguyễn Tri Phương,

Một tay chuyên chế phong cương chuẩn thằng.

Thức khuya dậy sớm nhọc nhằn,

Ưu dân ái quấc lòng hằng thảo ngay.

Sắm đào chưa kịp đến nay,

Ông Trần Bá Lộc sau bày thành công.

Hiềm vì công đã thành công,

Giáp thìn bão ngập lúa không hột nào.

Tị niên lại bị cào cào,

Phần thêm chuột cắn làm sao cho bình. (420)

Hà Dương thần miễu một mình,

Trên vàm Trà Lọt nước quanh vận đào.

Tàu ghe lên xuống ra vào,

Xứ kêu Vòng Mẫn ba đào hãi kinh.

Nhiều người không tỏ hiệu danh,

Gọi là Dinh Cậu anh linh tiếng đồn.

Vàm Trà Lọt Hòa Khánh thôn,

Có ngôi thạch mộ vĩnh tồn non sông.

Người đều kêu mả Lê Ông,

Nguyên là nội tổ Tướng công Bình Hòa. (430)

Gốc khi địch khí thạnh đa,

Lê Ông ngẫu cảm vội đà quyên sanh.

Giặc trời lúc ấy hoành hành,

Chết chôn sơ tạm ai dành rủi may.

Đến vàm ông ấy đứt dây,

Người bèn đào lỗ lấp ngay giữa chừng.

Vợ con không sở ăn mần,

Đem nhau về ở Long Hưng Thuận Bình.

Rạch Ông Hổ ấy là danh,

Mấy năm cư trụ kinh dinh ruộng đồng. (440)

Sanh đặng ông Lê tướng công,

Miễu lăng Gia Định thạnh sùng lửa hương.

Lê Ông mộ chí ghi tường,

Tại nơi Hòa Khánh thôn hương rõ ràng.

Viên quan chức sắc nội làng,

Nhiều tay lễ nghĩa nhiều trang học hành.

Đổi dời trải mấy thu đông,

Mà người trung hậu một lòng tương đôn.

Lịch thay Hòa Khánh nhứt thôn,

Dân phong thuần mỹ lược tồn sử kinh. (450)

Hương quan Đức, Nguyễn Ngọc Huỳnh,

Tú sĩ Nhiêu Thới với anh Học Điềm.

Đều là tánh hạnh khiêm khiêm,

Thú vui đờn rượu ngày tìm dưỡng dung.

Định Tường hạt ở chánh trung,

Sông sâu nước chảy người sung lịch đời.

Văn phong thuở cựu rạng ngời,

Một ông Tấn sĩ hai người Thủ khoa.

Ăn chơi tục lắm xa hoa,

Cầm kỳ thi tửu vịnh ca tiếu đàm. (460)

Tục hay tin chuyện bá xàm,

Mấy thầy Tướng ứng nói thàm nói vơ.

Tục hay thù vặt thừa cơ,

Phao thuốc phao súng rơi thơ rơi tờ.

Thận, Long, năm trước dề cờ,

Hiệp cùng Đức, Rộng, phỉnh phờ dậy binh.

Xuống lên Mỹ Quý Tân Thành,

Điềm Hi, Hữu Đạo, xanh quanh các làng.

Giặc sao gươm giáo nghinh ngang,

Súng ống không có ó vang cùng đường. (470)

Điên cuồng gẫm cũng khá thương,

Bốn người thảy mắc chiến trường tróc câu.

Dẫn ra Cây Lậy chém đầu,

Bốn người đều chém trước sau một lần.

Sau thêm Ong, Khả, lẫy lừng,

Roi mây ngựa chuối giăng giăng khởi cùng.

Dân làng chẳng hiểu sự chi,

Ngỡ là diệu pháp vậy thì rùng theo.

Rủi ro ng, Khả, vận nghèo,

Bắt đều chém tại Thuộc Nhiêu cựu đồn. (480)

Người đời đâu thiếu trí khôn,

Bởi nghe quấy quá hóa phồn dại ngu.

Sau thêm du sĩ Trần Tu,

Bày làm chuyện mị hoặc vu dị kỳ.

Đã làm lời dụ Hàm Nghi,

Người ta tưởng thiệt nhơn nghì tin theo.

Kế gian lấy của đặng nhiều,

Tàng ẩn mơi chiều ở Vĩnh Kim Đông.

Ai dè thiên đạo chí công,

Những trang hiểm ác chắc không sống đời. (490)

Tuần do thám bắt tức thời,

Côn Lôn phát phối khỏi vời chết ngay.

Tiếc người ăn học rất hay,

Nho y sự nghiệp phải thầy có danh.

Làm chi những sự trớ trinh,

Kiến tài ám nhãn nỡ khinh thân mình.

Rõ ràng chuyện mới đành rành,

Khuyên người mựa chớ tánh tình mê sa.

Bàu Cột Bườm tiếng lạ thay,

Ở Thạnh Quan tổng làn rày Thanh Xuân. (500)

Mùa mưa linh láng như bưng,

Ngoài cao trong thấp bụi rừng rậm ri.

Ao Xương Rồng đặt tên kỳ,

Tại Bình Vương xã rộng thì minh mông.

Kinh Bà Bèo, phía trong đồng,

Có chùa Phật Mộc mục đồng hay chơi.

Nguyên xưa am nhỏ lâu đời,

Thờ ông Phật Đá tơi bời thuở nay.

Coi ra ông Phật bốn tay,

Mặt mày hiền hậu tốt thay tượng hình. (510)

Ông Bảo hộ Thoại, qua kinh,

Bà cảm thời chứng thình lình phát đau.

Ông Thoại xót xa ưu sầu,

Trên bờ mách miệng Phật cầu hiển linh.

Vái van lập tức bịnh lành,

Ngày sau tu chỉnh mới thành chùa to.

Ở làng Mỹ Hạnh giữa gò,

Ra vô những trẻ chăn bò chăn trâu.

Thường khi trộm cướp đâu đâu,

Đem đồ tang vật tới âu ở nhờ. (520)

Dầu ai mạch chỉ tình cờ,

Tư bề trống trải cõi bờ quạnh không.

Dòm coi biết ý thẳng xông,

Trốn qua chỗ khác ai hòng bắt ta.

Hương chánh Quế, cất cái nhà,

Tại Cái Thia xứ nay đà mấy niên.

Nuôi tên thợ Cữu thường xuyên,

Ham ưa chạm khéo tốn tiền biết nhiêu.

Trời sanh tánh cũng khác nhiều,

Khôn lanh kiểu vở tạc biêu để đời. (530)

Định Tường danh tiếng ăn chơi,

Ruộng vườn phì mỹ rạng ngời thủy sơn.

Chợ thời chợ Mỹ đông hơn,

Chợ Bưng, Rạch Miễu, đơn đơn theo làng.

Ông Văn, Gò Cát, Cái Ngang,

Nhựt Tân, Cai Lột, theo đàng Sân Trông.

Bến Tranh, Cây Lậy, CẢ Công,

Cổ Chi, Trấn Định, cũng đông bạn hàng.

Tài Yến, Chợ Gạo, Cầu Ngang,

Cái Thia, Cái Nứa, xuống sang Cái Bè. (540)

Thuộc Nhiêu, Chợ Giữa, tư bề,

Phố phường đông đảo chỉnh tề bán buôn.

Cái Lá, Chợ Mới, quá buổn,

Ngã tư chợ ấy đường luôn Ba Dầu.

Ba Dừa xứ tốt cau trầu,

Rạch Gầm, Xoài Mút, có cầu ngang sông.

Nhị Bình, chợ quê ở đồng,

Đôi ba mươi nhóm không không bữa nào.

Chợ Kinh chợ nhóm tầm phào,

Người ta tuy ít ra vào đẹp xinh. (550)

Viết một bình luận

error: Content is protected !!